Hiểm hoạ từ những cơn bão trái mùa tại Việt Nam

Vietnam people never forgot a disaster come from The fifth tropical storm in 1998, killed over 300 fish men and others in Thailand gulf and near Condore Island, and Typhoons number 8, number 9 in 2006 caused serious loss for people and their proprties in the Midle and the South of Vietnam.

Người dân Việt Nam không ai không nhớ tới cơn bão số 5 tai ương năm 1998 đã làm chết và mất tích trên 300 ngư dân của vùng miền Trung và Nam Nam bộ. Một thảm họa không đáng có lúc bấy giờ. Và những cơn bão cuối mùa hiếm có nhưng cường độ lớn đã ập vào miền Trung và Nam Việt Nam trong năm 2006, gây thiệt hại lớn về con người và tài sản. Nguyên nhân chính là sự thiếu hiểu biết và chủ quan về bão nhiệt đới của người dân đang sống ở vùng vẫn được coi là thiên nhiên ưu đãi bốn mùa.

Bão gió trên biển là chuyện thường tình, nhưng để đừng bao giờ lặp lại cảnh bi thương tương tự, bài viết này mong sao giúp ích được cho bà con, cho những tàu thuyền hoạt động trên vùng biển nhưng chưa hiểu rõ những quy luật của bão nhiệt đới hoặc áp thấp nhiệt đới, từ đó có được một ít kiến thức để cứu lấy mình.

Khi nghiên cứu về bão nhiệt đới người ta thấy rằng, để hình thành một xoáy thuận (vùng có khối không khí nhiễu loạn, có áp suất thấp xuống so với bình thường, có gió xoáy và giật dưới cấp 8, tức là khoảng dưới 80 km/ giờ) hoặc bão nhiệt đới (xoáy thuận trên vùng nhiệt đới có sức gió lớn hơn cấp 8), cần có các điều kiện sau:

- Vì một lý do nào đó, có một khối không khí trên biển bị nhiễu loạn

- Khối không khí phải có độ ẩm đủ lớn (vì vậy bão chỉ hình thành trên biển rồi mới đi vào đất liền)

- Nhiệt độ nước biển lớn hơn 26 độ (oC).

Điều kiện này tương ứng với quy luật di chuyển của mặt trời từ bán cầu lên Bắc bán cầu từ sau ngày 21 tháng 3 hàng năm. Mặt trời sưởi ấm các vùng biển trong suốt thời gian nằm lại vùng trời Bắc bán cầu. Các cơn bão nhiệt đới cũng bắt đầu xuất hiện ở vùng biển phía bắc, sau đó chuyển dần về phía nam. Việt nam nằm hoàn toàn trong vùng khí hậu nhiệt đới. Vùng cực nước ta (Côn đảo) ở vào khoảng 8 độ vĩ tuyến bắc và cực Bắc (Quảng ninh) ở vào khoảng 22 độ vĩ tuyến bắc. Vì vậy, mùa bão của Việt nam thường bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 12 hàng năm. Tháng 10 âm lịch được coi là tháng kết thúc mùa bão ở vùng biển Đồ Sơn, Hải Phòng. Người dân phía nam thường bắt đầu chứng kiến những cơn bão muộn từ sau thời gian này.

Tuy nhiên, do sự biến động bất thường của khí hậu (hiện tượng Elnino), nhiệt độ nước biển vẫn cao trong mùa thu –đông ở vùng Bắc bán cầu, khác với quy luật hàng năm di chuyển của mặt trời. Từ đó thấy rằng các cơn bão mạnh vẫn hình thành liên tục trong các tháng 11 – 12 năm 2006 và vẫn di chuyển lên vùng biển bắc hoặc đi theo những quỹ đạo bất thường (Bão số 8, 9, 10 năm 2006)

- Bão chỉ hình thành ở vùng biển có vĩ độ địa lý lớn hơn 5 độ (Bắc hoặc Nam).

Gió xoáy tạo thành bão là do việc di chuyển của dòng không khí từ vòng ngoài vào trung tâm có áp suất thấp, tạo thành xoáy và bốc lên cao gây mưa dữ dội, sóng biển dốc và hỗn độn. Gió giật vừa có sức xô theo phương nằm ngang vừa hút lên cao làm cho mọi vật như vừa bị nhổ lên khỏi mặt đất và vất ra xa vị trí của chúng. Đó là một sự tàn phá.

Gió bão không đi theo đường thẳng từ ngoài vào tâm bão mà liên tục bị tác động của lực làm lệch hướng, lực này xuất hiện khi có một vật chuyển động trên bề mặt đất, từ đó quỹ đạo chuyển động bị liên tục lệch sang bên phải hướng di chuyển (ở Bắc bán cầu) và lệch trái khi ở Nam bán cầu. Trong vật lý, lực đó là lực Coriolit (C), công thức về độ lớn:

C = 2ω.v sinφ

Theo quy luật vật lý như trên, các cơn bão sau khi trưởng thành trên vùng biển Tây Thái Bình dương luôn có xu hướng di chuyển theo hướng Tây - Tây bắc. Tuy nhiên theo thống kê thấy rằng quy luật đó chỉ chiếm một tỉ lệ khoảng 30 phần trăm, số còn lại chuyển động theo những đường đi không quy luật. Chính vì thế việc dự đoán của các nhà khí tượng không thể hoàn toàn chính xác. Đây là một mối hiểm họa, đang thách thức khoa học dự báo và đe dọa cuộc sống con người. Sau khi đổ bộ vào đất liền bão sẽ bị lực ma sát gây cản trở hoặc khi di chuyển lên vùng biển lạnh hơn năng lượng của chúng sẽ giảm xuống, bão suy yếu và tan nhanh.
Trong đó:

v: tốc độ di chuyển của phần tử chuyển động, φ: Vĩ độ địa lý, ω: tốc độ quay của trái đất.

Thấy rằng, nếu giá trị vĩ độ nhỏ thì lực C không đủ lớn để gây lệch hướng chuyển động của các phần tử không khí. Nói một cách khác: sẽ không có gió xoáy (không có bão hoặc áp thấp nhiệt đới). Điều đó giải thích cho việc vì sao các tỉnh phía nam nước ta (ở vĩ độ thấp) ít khi thấy bão.


Bão hình thành, di chuyển trên biển với nhiều điều kiện thuận lợi sẽ tích lũy thêm năng lượng và lớn dần lên. Vì vậy các cơn bão mạnh thường xuất hiện trên vùng biển Thái bình dương, sau khi tràn qua Philipin đã đủ lớn và đi vào nước ta. Còn các xoáy thuận xuất hiện trên Biển đông (giữa Philipin và Việt nam), sau đó vào Việt nam thường là các áp thấp nhiệt đới, vì thời gian tồn tại trên biển ngắn. Một cơn bão trên vùng Thái bình dương có tuổi đời từ dăm đến vài chục ngày.

Hình 1 là ảnh chụp vệ tinh và cấu trúc theo chiều ngang của một cơn bão. Trong hàng hải người ta phân chia vùng bão thành các khu vực một cách tương đối trên cơ sở ảnh hưởng của gió, sóng biển và khả năng các tàu thuyền bị cuốn vào tâm xoáy khi phải chống chọi trên biển ở các vị trí khác nhau. Bão được chia thành 2 phần qua đường di chuyển. Phần nửa bên phải đường di chuyển ở Bắc bán cầu được gọi là Bán vòng nguy hiểm (BVNH), vì những nguyên nhân sau:

- Cùng một khoảng cách đến tâm bão thì sóng gió ở khu vực bên phải (BVNH) lớn hơn ở bán vòng bên trái.

- Tàu thuyền phải chạy vát sóng (cho gió thổi vào phía trước, mạn phải của tàu thuyền) để vượt ra sau trung tâm của bão. Việc chạy tàu vát sóng sẽ rất cực nhọc và nguy hiểm (Vị trí A). Tàu thuyền không được phép chạy xuôi gió trong khu vực này, vì sẽ bị cuốn vào tâm bão.

- Nếu tàu thuyền không đủ sức vượt ra sau bão thì rất dễ bị đưa vào tâm. Trong lúc đó bão luôn có xu hướng di chuyển lệch phải vì vậy khả năng tàu bị đưa gần vào tâm bão sẽ rất lớn.

Ở Bắc bán cầu, bán vòng bên trái đường di chuyển của bão được gọi là bán vòng hàng hải (BVHH), ít nguy hiểm hơn vì các lý do:

- Cùng khoảng cách đến tâm bão thì sóng gió nhẹ hơn một ít

- Quy tắc tránh bão trong vùng này là cho tàu chạy chếch gió mạn trái ( gió luôn thổi vào mạn trái, phía sau). Lúc này tốc độ tàu thuyền tăng nhanh, việc chạy tàu cũng khỏe hơn, nhanh chóng rời khỏi khu vực nguy hiểm. Khả năng rơi vào tâm bão ít hơn. (vị trí B)

Trong thực tế, nếu vị trí tàu cách tâm bão tương đối xa và ở gần trên đường di chuyển của nó (vi trí C) thì người điều khiển tàu thuyền xem xét khả năng thực hiện và cho tàu cắt đường đi để chạy sang BVHH. Điểm cần thiết phải xem xét là khi bão càng đến gần thì tốc độ tàu càng giảm xuống, hơn nữa sai số về dự báo đường di chuyển của bão cũng khá lớn. Nếu không chắc chắn thì không được mạo hiểm thực hiện.

Việc điều động tàu thành công trong vùng bão phụ thuộc vào khả năng kỹ thuật của tàu thuyên, sức khỏe của người đi biển và kinh nghiệm cũng như sự hiểu biết về bão của họ. Một trong những nguyên tắc đã được tổng kết dễ nhớ, giúp cho những người điều khiển tàu thuyền thoát nạn khi bị rơi vào khu vực BVNH là Quy Tắc 3 Phải (Phải – Phải – Phải). Nếu đứng quay mặt về hướng gió thổi, sau một thời gian đủ lớn thấy hướng gió đổi chiều dần sang bên Phải, lúc đó tàu đang nằm ở bán vòng bên Phải (BVNH), luôn để gió vát Phải để điều động tàu dần vê phía sau cơn bão.

Việc nhận biết vị trí hiện tại của tâm bão hết sức quan trọng và có thể thông qua các bản tin thông báo thời tiết. Sau đó xác định vị trí tương quan của tàu mình so với tâm bão để có phương án chạy tàu cho phù hợp. Tuy nhiên, nhiều lúc ở trên biển chúng ta không nhận được thông tin. Kinh nghiệm quan sát có thể cho ta những phán đoán tương đối chính xác hướng đến tâm bão, bao gồm quan sát hướng di chuyển của mây, hướng của sóng lừng hoặc sự thay đổi của áp suất không khí và hướng gió trong quá trình quan sát.
- Khi còn cách xa tâm bão, nhìn lên bầu trời thấy mây màu trắng trên cao như những sợi khói thuốc bị hút về một điểm (hướng đến tâm bão).

- Hướng từ đó sóng lừng đầu tròn di chuyển tới là hướng đến tâm bão. Chu kỳ sóng càng dài thì sức gió trong tâm bão càng lớn (ví dụ, nếu đo được chu kỳ sóng là 10 giây thì tương ứng gió vùng tâm bão gần tới cấp 10).

- Khí áp giảm dần là bão đang đến gần

- Đứng quay mặt về hướng gió: tâm bão sẽ ở phía tay phải, chếch về sau.
Xét đến sự di chuyển bất thường của những cơn bão cuối mùa tại Việt nam và sự nguy hiểm của chúng cho tàu thuyền, cho cư dân các vùng phía nam nước ta, thấy rằng:


- Các cơn bão cuối mùa thường xuất hiện ở vùng có vĩ độ thấp, lực Coriolit không đủ lớn để đưa cả khu vực bão lên phía bắc.

- Các khối không khí lạnh xuất hiện và di chuyển xuống phía nam sẽ ép vùng bão xuống phía dưới.

- Khi bão vào gần vùng bờ, địa hình cũng là nguyên nhân làm cho quỹ đạo nhiều cơn bão chuyển hướng dọc theo bờ biển xuống phía nam.

- Việc dự báo đường đi của bão trong các trường hợp này sẽ gặp khó khăn và không chính xác.

Vì hiếm thấy xuất hiện bão ở các vùng phía nam nước ta (từ vĩ độ 12 trở xuống) cho nên nhân dân sống trong các vùng này rất chủ quan. Nhà cửa cho đến các công trình dân dụng khác đều được xây dựng mà không tính đến khả năng chịu bão gió. Tàu thuyền hoạt động trên biển cũng thiếu các thiết bị thông tin liên lạc, trang bị an toàn. Thậm chí ngư dân còn mê tín và tin rằng việc mang theo phao cứu sinh trên tàu sẽ xui xẻo. Các tàu thuyền đánh bắt trên biển thường nhỏ, công suất máy yếu, thiếu dự trữ cần thiết. Đặc biệt người dân không hiểu biết cách thức chạy tàu khi gặp bão. Việc đưa tàu thuyền về tập trung tại Côn đảo hoặc cố gắng chạy về bến trong cơn bão số 5, năm 1998 đã làm chết hơn 300 người, hư hỏng nhiều tàu thuyền là một minh chứng đau lòng. Mặc dù sức gió trong cơn bão đó chỉ đạt cấp 8 – 9.

Trên thực tế, theo quy luật chuyển động và ảnh hưởng của khu vực bão thì các tàu thuyền trên biển ở các vĩ tuyến 12 trở xuống rất dễ phòng tránh. Miễn rằng họ biết được thông tin về vị trí tâm bão, khu vực ảnh hưởng của gió mạnh (trên cấp 6), và tàu thuyền có kế hoạch dự trữ nước ngọt, lương thực, nhiên liệu trong mùa bão. Các tàu thuyền ở khu vực này chỉ cần chạy xuống phía nam, hoặc theo hướng đông nam để ngày càng cách xa tâm bão sẽ hết sức an toàn (Hình 4). Sau đó liên lạc về đất liền để phối hợp trợ giúp cần thiết sau khi bão tan. Việc cố gắng chạy vào bờ sẽ nguy hiểm vì tốc độ di chuyển của bão khoảng 10 – 15 hải lý / giờ, trong lúc đó tốc độ tàu thuyền đánh bắt khoảng 4 – 5 hải lý/ giờ. Bão sẽ nhanh chóng đuổi kịp tàu thuyền. Khi có bão, các tàu thuyền chạy về bờ sẽ bị ngược gió (gió Tây – Tây nam), tốc độ còn giảm mạnh.

Sóng biển do bão gây ra là sự kết hợp của sóng do gió và sóng lừng, cọng với yếu tố dâng mực nước vì áp suất không khí thấp hơn bình thường. Khi vào bờ sóng sẽ tràn lên, cuốn trôi hoặc nhấn chìm mọi vật trên đường đi của nó.

Tuy nhiên, những thuyền nhỏ, hoạt động gần bờ khi nhận được tin báo bão cần phải vào bờ gấp để trú ẩn.

Gió trong vùng bão đổi chiều liên tục và giật mạnh, mỗi lần giật thì sức gió có thể tăng thêm 2-3 cấp và lệch hướng thêm. Nếu ta đang nằm trên hướng di chuyển của bão thì sự thay đổi hướng gió không rõ ràng, trong lúc quan sát trên đồng hồ đo khí áp thấy giá trị đo bị giảm liên tục. Một khi thấy hướng gió đổi chiều gần như ngược lại so với hướng ban đầu thì đó là dấu hiệu tâm bão đã đi qua. Trên đất liền quan sát thấy gió mạnh dần lên, mưa rất lớn, sau đó bỗng nhiên ngớt mưa, lặng gió rồi tiếp đến giai đoạn gió giật mạnh nhưng có chiều ngược lại, mưa như trút. Đó là dấu hiệu tâm bão đi qua. Chính giai đoạn gió giật trở lại sau đó có sức tàn phá ghê gớm. Nhân dân chống bão phải quan tâm đến hiện tượng này để có biện pháp chằng giữ cả bốn phía cho chắc chắn.

Ở trên biển vì dòng nước trong vùng tâm bão xoáy mạnh, sóng dốc và hỗn độn nên tàu thuyền rơi vào khu vực này sẽ hết sức nguy hiểm. Việc thoát khỏi tâm bão chỉ là một sự may mắn hiếm có.

Kết luận:

- Bão cuối mùa thường lùi dần về phía nam nước ta, mặc dù ít xuất hiện nhưng rất nguy hiểm vì sự chủ quan và thiếu hiểu biết của nhân dân.

- Ở trên biển, khi không thể về đất liền thì hướng – Đông –nam là hướng chạy an toàn của tàu thuyền khi hoạt động ở phía bên trái đường đi của bão. Nam

- Cần có trang bị thông tin liên lạc tốt, có đủ thiết bị an toàn, chuẩn bị nhiên liệu, thực phẩm dự phòng trước khi ra khơi trong mùa bão.
- Nếu có phải rơi vào bán vòng nguy hiểm của bão thì Quy tắc 3 Phải là phương án cần thực hiện để thoát.

- Nước biển dâng cao, lũ quét là hậu quả tất yếu của bão, nhân dân vùng ven biển, vùng núi dốc cần được sơ tán kịp thời

Xem chi tiết...[+]

BÃO NHIỆT ĐỚI (Tropical Storm)

Bão là hiện tượng gió mạnh kèm theo mưa rất lớn do có sự xuất hiện và hoạt động của các khu áp thấp (low pressure area) khơi sâu. Bão biển nhiệt đới là danh từ được dịch từ tiếng Anh "tropical cyclone" hoặc "tropical storm". Theo định nghĩa quốc tế, bão biển nhiệt đới phải có gió nhanh hơn 63 km/giờ (cấp 8, 34 knots). Nếu gió yếu hơn 63 km/giờ, gọi là áp thấp nhiệt đới (tropical depression). Nếu gíó mạnh hơn 118 km/giờ (cấp 12, 64 knots), bão được gọi là bão to với cuồng phong (typhoon). Ngoài ra còn có bão rất to hay siêu bão (super typhoon) với gió nhanh hơn 241 km/giờ. Xin xem Bảng Cấp Gió để biết thêm định nghĩa các cấp gió.

Bão có nhiều tên gọi khác nhau tuỳ vào khu vực phát sinh:

+ Bão hình thành trên Đại Tây Dương: hurricanes

+ Bão hình thành trên Thái Bình Dương: typhoons

+ Bão hình thành trên Ấn Độ Dương: cyclones

Điều kiện cơ bản để hình thành bão là nhiệt độ cao và những vùng dồi dào hơi nước: khi nhiệt độ cao sẽ làm cho hơi nước bốc lên mạnh và bị đấy lên cao, tại khu vực đó 1 tâm áp thấp hình thành. Do sự chênh lệch khí áp, không khí ở khu vực lân cận sẽ tràn vào.Tại tâm bão (mắt bão) không khí chuyển từ trên xuống dưới, xung quanh tâm bão: không khí bốc mạnh lên cao ngưng tụ thành 1 bức tường mây dày đặc, tạo ra những cơn mưa cực lớn và gió xoáy rất mạnh. Khi đi vào đất liền hoặc vùng biển lạnh ở các vĩ độ cao, bão mất nguồn năng lượng bổ sung từ không khí nóng ẩm trên biển, cộng với đó là ảnh hưởng của lực ma sát với mặt đất nên suy yếu dần và tan đi.

Ảnh: Bão Số 9 (Durian) hình thành và di chuyển vào Việt Nam

Cấu tạo của một cơn bão nhiệt đới

Một cơn bão nhiệt đới trưởng thành bao gồm một hoàn lưu ngang gần đối xứng và một hoàn lưu đứng. Các hoàn lưu này đôi khi được gọi là hoàn lưu sơ cấp và hoàn lưu thứ cấp. Sự kết hợp của 2 hoàn lưu tạo thành một dạng chuyển động xoáy ốc. Không khí hội tụ theo hình xoắn ốc vào khu vực trung tâm của bão ở mực thấp, hầu hết dòng thổi vào bị giới hạn trong lớp biên mỏng có độ dày cỡ 500m đến 1000m.

Cấu tạo của 1 cơn bão gồm các phần sau: mắt bão (the eye), thành mắt bão (the eyewall), dải mây (rainbands) và lớp mây ti dày đặc phía trên (the Dense Cirrus Overcast)

Ảnh: Cấu tạo của 1 cơn bão

Mắt bão hay còn gọi là tâm bão, là vùng giữa các cơn lốc xoáy của bão, thường có áp suất không khí rất thấp.

Mắt bão là một khu vực hầu như lặng gió nằm ở trung tâm của một cơn lốc xoáy nhiệt đới mạnh. Mắt bão thường có hình xoáy tròn và thường có đường kính khoảng 25–40 dặms (40–65 km). Nó được bao quanh bởi thành mắt bão hay còn gọi là hoàn lưu bão (eyewall), đây là vùng hình xuyến quanh mắt bão, có sức gió mạnh nhất và sức tàn phá lớn nhất trong cơn bão.Vùng khí áp thấp nhất của bão nằm ở mắt bão, và có thể thấp hơn 15% so với áp suất khí quyển bên ngoài cơn bão. Khoảng cách từ tâm của mắt bão đến hoàn lưu bão gọi là bán kính gió cực đại của một bão xoáy nhiệt đới.

Mắt bão có thể là đặc điểm dễ nhận thấy nhất của bão xoáy nhiệt đới. Được bao quanh bởi hoàn lưu bão, một vòng bão sét hình tháp, mắt bão có dạng hình tròn ở trung tâm bão xoáy. Với các bão xoáy nhiệt đới mạnh, mắt bão có gió nhẹ và quang mây, bao quanh bởi hoàn lưu bão hình tháp đối xứng. Với các bão xoáy nhiệt đới yếu hơn, mắt bão khó định hình hơn, và có thể bị bao phủ bởi mây mù trung tâm,là một vùng mây cao, dày, có thể nhìn thấy rõ ràng bởi ảnh vệ tinh. Các cơn bão yếu hơn có thể tạo nên hoàn lưu bão mà không làm tròn được mắt bão, hoặc có mắt bão với mưa to. Tuy nhiên trong tất cả các cơn bão, mắt bão là nơi có khí áp thấp nhất; nơi mà áp suất khí quyển trên mặt biển là thấp nhất.

Ảnh: Tâm của Cơn bão Isabel Cấp độ4 quan sát từ Trạm không gian Quốc tế ISS vào ngày 15 tháng 9, 2003

Bão thường xuất hiện ở khu vực từ vĩ tuyến 5 đến 20 0 vĩ Bắc và Nam, điển hình là ở Thái bình Dương với tên gọi là Bão nhiệt đới (Tropical Storm). Tại đây, nhiệt độ tương đối cao, tạo điều kiện cho sự đối lưu của nước, hình thành bão. Những cơn mưa rào do bão mang tới làm cho cỏ cây phát triển tươi tốt. Tuy nhiên những trận bão dữ dội có thể tàn phá mùa màng, sập nhà cửa, gây thiệt hại rất lớn cho con người.

Ảnh: Khu vực hay xảy ra bão trên thế giới và số bão trung bình hàng năm

Ở Việt Nam, bão phát sinh từ tháng 5 đến tháng 12 trên khu vực biển Đông. Sau khi đạt tới trình độ phát triển mạnh, bão di chuyển theo hướng từ Đông sang Tây, về phía đất liền và thường tan đi khi đã đổ bộ vào bờ biển. Từ Bắc vào Nam mùa bão chậm dần phù hợp với sự di chuyển của dải hội tụ nhiệt đới: từ Móng Cái - Thanh Hoá (tháng 7,8), Thanh Hoá - Quảng Trị (tháng 9), Quảng Trị - Bồng Sơn (tháng 10), Bồng Sơn - TPHCM (tháng 11), TPHCM - Cà Mau (tháng 12).

Năm 2006 là năm xuất hiện nhiều trận bão mạnh: bão Chanchu (5/2006), bão Xangsane và Cimaron (10/2006), Chebi (11/2006), bão Durian và Utor (12/2006). Các cơn bão gây thiệt hại lớn cho người dân (đặc biệt là các khu vực gần biển)

Ảnh: siêu bão Chanchu (5/2006)

Xem chi tiết...[+]

Bảng cấp gió và sóng

BẢNG CẤP GIÓ VÀ SÓNG (Việt Nam)

Cấp gió

Tốc độ gió

Độ cao sóng trung bình

Mức độ nguy hại

Bô-pho

m/s

km/h

m

0

1

2

3

0-0.2

0,3-1,5

1,6-3,3

3,4-5,4

<1

1-5

6-11

12-19

-

0,1

0,2

0,6

Gió nhẹ.

Không gây nguy hại.

4

5

5,5-7,9

8,0-10,7

20-28

29-38

1,0

2,0

- Cây nhỏ có lá bắt đầu lay động. ảnh hưởng đến lúa đang phơi màu

- Biển hơi động. Thuyền đánh cá bị chao nghiêng, phải cuốn bớt buồm.

6

7

10,8-13,8

13,9-17,1

39-49

50-61

3,0

4,0

- Cây cối rung chuyển. Khó đi ngược gió.

- Biển động. Nguy hiểm đối với tàu, thuyền.

8

9

17,2-20,7

20,8-24,4

62-74

75-88

5,5

7,0

- Gió làm gãy cành cây, tốc mái nhà gây thiệt hại về nhà cửa. Không thể đi ngược gió.

- Biển động rất mạnh. Rất nguy hiểm đối với tàu, thuyền.

10

11

24,5-28,4

28,5-32,6

89-102

103-117

9,0

11,5

- Làm đổ cây cối, nhà cửa, cột điện. Gây thiệt hại rất nặng.

- Biển động dữ dội. Làm đắm tàu biển.

12

13

14

15

16

17

32,7-36,9

37,0-41,4

41,5-46,1

46,2-50,9

51,0-56,0

56,1-61,2

118-133

134-149

150-166

167-183

184-201

202-220

14,0

- Sức phá hoại cực kỳ lớn.

- Sóng biển cực kỳ mạnh. Đánh đắm tàu biển có trọng tải lớn.

Xem chi tiết...[+]

Sóng biển

Sóng biển

Sóng biển là hiện tượng diễn ra ở lớp nước gần mặt biển. Sóng thường hình thành do gió và những hiệu ứng địa chất, và có thể di chuyển hàng nghìn kilomet trước khi đến đất liền. Kích cỡ sóng biến đổi từ những gợn sóng lăn tăn đến những cơn sóng thần cực lớn. Ngoài dao động thẳng đứng, các hạt nước trong sóng biển có một chút chuyển động theo phương ngang.

Sự hình thành của sóng:

Nguyên nhân chủ yếu cho sự hình thành của sóng là gió, có 3 yếu tố của gió ảnh hưởng đến sóng:
- Tốc độ gió
- Độ dài mặt mà trong đó nước chịu ảnh hưởng của gió
- Thời gian nước bị gió thổi
Tất cả những yếu tố trên góp phần tạo nên sóng với kích thước và hình dạng khác nhau. Giá trị của từng yếu tố càng lớn đều làm cho sóng lớn hơn.
Sóng được đo bởi:
- Độ cao (từ đỉnh đến chỗ lõm)
- Bước sóng (khoảng cách giữa các đỉnh)
- Chu kì sóng (khoảng thời gian giữa các ngọn sóng liên tiếp ở một điểm cố định)

Các dạng của sóng:
Sóng có nhiều dạng:
- Sóng mao dẫn:
Thường thấy trên mặt nước phẳng lặng bị sao động bởi hòn đá, chiếc lá,... Sóng này biến mất nhanh chóng khi tác nhân gây ra sóng ngừng hoạt động. Sóng này có bước sóng quá nhỏ nên có thể mô tả tốt nếu chỉ bằng hiệu ứng sức căng mặt ngoài. Ngoài ra khi 2 ngọn sóng loại này đâm vào nhau thì hiện tượng tuân theo nguyên lí chồng chập sóng, tức là các ngọn sóng không ảnh hưởng gì đến nhau, ở vị trí chồng chập xảy ra giao thoa. Bước sóng của sóng này vào cỡ

lambda_c = 2 pi sqrt{ frac{gamma}{rho g}}
Trong đó γ là suất căng mặt ngoài, ρ là khối lượng riêng. Với nước λc = 1,7cm.
- Sóng biển
Dạng sóng này có kích thước lớn hơn, hình thành dưới tác dụng kéo dài của gió. Và tồn tại khá lâu sau khi gió kết thúc. Lực khôi phục sóng này là lực hấp dẫn.
Ta thường nhiền thấy sóng biển vỡ tan thành bọt khi vào bờ. Đó là khi chân sóng không thể đỡ được ngọn sóng. Hiện tượng này xảy ra mỗi khi sóng đi vào vòng nước nông hơn, hoặc khi 2 ngọn sóng đâm vào nhau (đây là điểm khác nhau giữa sóng biển và sóng mao dẫn).

figure-17-13-1.jpg picture by duchp_2007

Khoa học về sóng biển
Sóng biển là sóng cơ học lan truyền giữa mặt phân cách của nước và không khí, lực khôi phục của dao động này là lực hấp dẫn. Khi gió thổi, áp suất và ma sát làm xáo động bề mặt. Trong trường hợp sóng biển, các hạt ở gần mặt nước chuyển động theo một đường tròn, do đó sóng này là sự kết hợp của sóng dọc và sóng ngang. Khi sóng lan truyền trong vùng nước nông (độ sâu nhỏ hơn nửa bước sóng), quỹ đạo của các hạt nước bị nén thành dạng elip . Khi biên độ sóng tăng lên, quỹ đạo của hạt nước không còn là đường kín nữa mà sau mỗi chu kì chúng bị dịch về phía trước một ít, hiện tượng này gọi là dịch chuyển Stokes.

350px-Wave_motion-i18n.png picture by duchp_2007

Đường kính quỹ đạo các hạt giảm khi độ sâu ngày càng tăng và ở độ sau cỡ nửa bước sóng, quỹ đạo này co lại gần như một điểm. Vận tốc sóng được xấp xỉ tốt bằng phương trình:
c=sqrt{frac{g lambda}{2pi} tanh left(frac{2pi d}{lambda}right)}
c: vận tốc pha
λ: bước sóng
d: độ sâu
Ở nơi nước sâu d>> (1/2)λ, c xấy xỉ 1.25sqrtlambda. Điều này cho thấy vận tốc pha của sóng phụ thuộc vào bước sóng. Khi sóng đi vào vùng nước nông, do ma sát, phần nước cang thấp di chuyển càng chậm dẫn tới các lớp nước lướt trên nhau, sóng bị vỡ, với những con sóng lớn ta có thể thấy sóng đổ xuống rất đẹp (niềm đam mê của những người yêu lướt sóng).
Ngoài những sóng thông thường trên, sóng thần là một con quái vật của tự nhiên, nó có thể cao đến 30 m. Sóng thần hình thành do động đất, những vụ nổ trong lòng đại dương hoặc một vụ va chạm với thiên thạch,...

Xem chi tiết...[+]

Dấu hiệu của sóng thần

''Khi đang ở bãi biển, nếu bạn cảm thấy có động đất và nhận thấy nước biển đột nhiên rút ra xa, hãy nghĩ rằng sóng thần có thể đang đến gần, khẩn trương chạy đến khu vực đất cao ngay lập tức...''.

Dấu hiệu của sóng thần như thế nào? Khi sóng thần sắp xảy ra, mặt nước biển thường có sự tăng giảm bất thường. Nếu thấy có dấu hiệu động đất sau đó mặt nước biển rút xuống nhanh chóng, đó có thể là dấu hiệu của sóng thần sắp ập tới.

- Một trận động đất là dấu hiệu cảnh báo tự nhiên về sóng thần. Nên nhớ rằng một trận động đất có thể gây ra sóng thần cách đó hàng nghìn cây số chỉ vài giờ sau khi cơn rung chấn xảy ra.

Làm gì và không nên làm gì khi có sóng thần? Khi nhận được cảnh báo về sóng thần, hãy ngay lập tức sơ tán đến nơi đất cao, đừng cố sử dụng điện thoại hay đứng nhìn con sóng đang tới vì sóng thần di chuyển rất nhanh.

- Nếu cảm thấy hay nghe thấy về một trận động đất mạnh, đừng chờ đợi thông báo chính thức về sóng thần, hãy rủ gia đình và bạn bè cùng chạy đến vùng đất cao hơn.

Xem chi tiết...[+]

Sóng thần

Khái niệm chung về sóng thần

Sóng thần có thể hình thành do bất cứ một biến động nào trong lòng biển mà biến động đó có thể chiếm một thể tích lớn nước làm mất trạng thái cân bằng. Trượt lở đất ngầm, các trận động đất lớn có thể sản sinh ra sóng thần. Trong quá trình trượt lở, trạng thái cân bằng của mực nước biển bị biến đổi do sự dịch chuyển của đất đá trên thềm biển. Tương tự như vậy, những phun trào mãnh liệt của núi lửa ngầm tạo ra một lực đẩy vô cùng lớn, chiếm chỗ cột nước và hình thành sóng thần. Khối lượng lớn đất đá do bị sạt lở trên bờ, rơi xuống làm xáo động nước biển từ phía trên mặt. Khối đất đá này cũng chiếm chỗ nước, phá vỡ trạng thái cân bằng của nước và kết quả là sự hình thành sóng thần. Không giống như sóng thần được tạo thành do động đất, những dạng sóng thần được hình thành không mang yếu tố địa chấn thường tan biến một cách nhanh chóng và rất hiếm khi tác động được đến vùng bờ biển ở xa.

Sóng thần có những đặc điểm giống với sóng nước nông (shallow-water waves). Sóng nước nông khác với sóng mà chúng ta vẫn nhìn thấy ở bờ biển. Sóng biển được hình thành do gió thổi trên mặt biển (wind-generated waves). Sóng biển thường có tính chu kỳ, thời gian giữa các sóng kế tiếp, là khoảng từ 5 đến 20 giây, bước sóng khoảng từ 100 m đến 200 m.

Đối với sóng thần, thời gian giữa các sóng kế tiếp có thể là 10 phút, có trường hợp đến 2 giờ đồng hồ và bước sóng có thể đạt 500 km. Do có bước sóng lớn, sóng thần có những đặc điểm giống với sóng nước nông. Một sóng được coi như là giống sóng nước nông khi tỷ lệ giữa độ sâu thềm biển và bước sóng rất nhỏ. Tốc độ của sóng nước nông là căn bậc hai của tích gia tốc trọng trường với độ sâu thềm biển. Tốc độ suy giảm năng lượng của sóng tỷ lệ nghịch với độ dài bước sóng. Vì vậy, với bước sóng lớn, sóng thần thất thoát rất ít năng lượng trong quá trình lan truyền.

Sóng thần di chuyển với tốc độ rất nhanh, có thể tới 890 km/h ở vùng biển sâu 6100 m. Nó có thể đi xuyên qua Thái Bình Dương chỉ trong vòng chưa đầy 1 ngày. Vì tốc độ lan truyền của sóng liên quan mật thiết đến độ sâu mực nước - cùng với sự giảm độ sâu mực nước là sự giảm tốc độ của sóng. Tuy nhiên, do năng lượng toàn phần được bảo toàn, nên khi tốc độ của sóng giảm thì năng lượng của nó sẽ tạo nên những con sóng khổng lồ, thẳng đứng, có thể cao đến trên 10 m, thậm chí có thể đến 30 m. Điều này cho phép chúng ta giải thích vì sao sóng thần hầu như không thể nhận biết ở những vùng biển sâu nhưng lại bất ngờ đổ ập vào bờ với những con sóng khổng lồ có sức tàn phá ghê gớm. Sự có mặt của những rạn san hô, địa hình cao đáy biển, cửa sông, vịnh, độ dốc của thềm lục địa... đều có thể làm giảm bớt năng lượng của sóng thần giúp cho ảnh hưởng của sóng thần đến những vùng ven bờ sẽ giảm đi phần nào.

Hiếm khi sóng thần trở thành sóng đổ lớn và có dạng cột. Đôi khi, sóng thần bị hóa giải từ khi còn xa bờ. Hoặc trong những trường hợp hiếm hoi, chúng có thể trở thành triều xoáy - “sóng bậc thang” đổ dốc về phía trước. Sóng thủy triều dâng cao cũng có thể xuất hiện nếu như sóng thần di chuyển từ vùng biển sâu vào nơi vịnh nông hoặc cửa sông. Mực nước có thể lên cao đến vài mét. Trong một số trường hợp cá biệt, mực nước dâng cao hơn 15 m đối với sóng thần xa nguồn và có thể lên đến hơn 30 m đối với những sóng hình thành gần chấn tâm. Đợt sóng đầu tiên chưa hẳn đã có mức tàn phá lớn nhất trong chuỗi các sóng. Một vùng bờ biển có thể không quan sát được sự tác động của sóng, trong khi những vùng khác, sóng thần có thể rất lớn và mãnh liệt.

Sóng thần có thể gây lũ lụt lan sâu vào trong đất liền đến 305 m, thậm chí xa hơn, nước và các mảnh vụn bao phủ cả vùng rộng lớn. Lũ do sóng thần gây ra có xu hướng cuốn trôi sinh mạng và tài sản ra phía đại dương. Sóng thần đạt độ cao lớn nhất khi đến bờ, được gọi là “mức dâng của sóng tại bờ”.

Do khả năng tàn phá rất nghiêm trọng của sóng thần, từ lâu đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới về sự hình thành và lan truyền của sóng thần. Các nghiên cứu đều tập trung vào mục đích xây dựng một hệ thống dự báo và cảnh báo sóng thần có thể cho phép tính toán dự báo và đưa ra bản tin cảnh báo sóng thần với thời gian ngày càng rút ngắn. Sử dụng các số liệu về động đất và sóng thần trong quá khứ, các nghiên cứu đã tìm cách xác lập mối liên hệ giữa các thông số của động đất và các thông số của sóng thần để dự báo sự hình thành của sóng thần dựa trên các thông số của động đất như chiều dài, chiều rộng và độ sâu của dải đứt gẫy chính, góc nghiêng, góc trượt, góc tác động lên khối nước, khoảng cách và tốc độ dịch chuyển của khối đất đá.


Một số hình ảnh sóng thần đang lan truyền vào bờ.


Đặc điểm của sóng thần

Sóng thần là một dạng sóng trọng lực, có những đặc tính rất khác với sóng ngắn (như sóng do gió gây ra). Sóng thần có thể ảnh hưởng từ mặt đến đáy biển. Do vậy, có thể coi nó là sóng dài trên toàn bộ quy mô đại dương.

Bảng 1: Các thông số trung bình của sóng thần

TT

Độ sâu (m)

Vận tốc (km/h)

Độ dài sóng (km)

1

7000

943

282

2

4000

713

213

3

2000

504

151

4

200

159

48

5

50

79

23

6

10

36

10.6

Do là sóng dài, sóng thần gây chuyển động của nước biển từ mặt tới tận đáy đại dương. Bởi vậy, nguồn năng lượng do sóng thần vận chuyển đi là rất lớn, bao hàm nguồn năng lượng lớn, tốc độ truyền nhanh và có thể vượt đại dương. Một cơn sóng thần có chu kỳ dài từ mười phút đến vài giờ và bước sóng dài hàng trăm km, khác biệt với sóng gió có chu kỳ chỉ khoảng 10 giây và bước sóng khoảng 150m.

Các thông số trung bình của sóng thần được cho trong bảng 1.

Người ta đã cố gắng xác lập mối liên hệ giữa độ cao của sóng thần khi tới bờ và độ lớn của động đất dựa theo các kết quả quan trắc tại nhiều nơi trên thế giới. Tuy vậy có thể thấy rằng mối liên hệ đó rất phân tán. Điều này là do không phải chỉ có độ lớn của động đất mà còn nhiều yếu tố khác đã nêu ở trên như địa hình đáy biển mà sóng thần truyền qua sẽ quyết định độ cao của sóng thần.

Do giới hạn chính xác của việc đo đạc các thông số động đất cũng như các mô hình tính hình thành sóng thần, các tính toán về cường độ sóng thần dựa trên các thông số động đất có độ chính xác không cao. Vì vậy, ngoài việc tính toán sóng thần dựa trên các thông số động đất, cần thiết lập một hệ thống quan trắc phát hiện sóng thần ở ngoài khơi, giúp khẳng định sự tồn tại của sóng thần và hiệu chỉnh các tính toán về cường độ sóng thần dựa trên các thông số động đất. Dựa trên các thông số về sóng thần qua đo đạc và tính toán được như độ cao, chu kỳ, hướng truyền sóng, có thể áp dụng một mô hình số trị để tính toán sự lan truyền của sóng thần từ ngoài khơi vào bờ để xác định những vùng bờ có nguy cơ bị tàn phá bởi sóng thần, và một mô hình số trị tính toán chi tiết sóng leo để xác định mức độ ảnh hưởng của sóng thần đối với mỗi vùng bờ có nguy cơ bị ảnh hưởng. Trên cơ sở đó, tìm các phương án giảm nhẹ nhất ảnh hưởng của sóng thần, ra bản tin cảnh báo sóng thần và sơ tán người, tài sản ra khỏi vùng có nguy cơ ảnh hưởng của sóng thần.

Việc tính toán sự lan truyền của sóng thần ngoài khơi và vùng ven bờ thường đòi hỏi một thời gian tính toán rất dài, ngay cả khi sử dụng những máy tính hiện đại. Trong khi đó, trong nhiều trường hợp, thời gian để sơ tán người và tài sản ra khỏi vùng bị ảnh hưởng của sóng thần cần phải tính tới từng giây. Vì vậy, việc tính toán để ra bản tin cảnh báo sóng thần bằng mô hình số trị thời gian thực là không thực tế. Do đó, hướng nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo sóng thần được áp dụng tại nhiều nước tiên tiến là ngoài hệ thống quan trắc phát hiện sớm sóng thần ngoài khơi, người ta còn xây dựng các bản đồ cảnh báo nguy cơ trên cơ sở tính toán thời gian lan truyền của sóng thần từ ngoài khơi vào bờ, cường độ của sóng thần tại mỗi vùng bờ và mức độ ngập lụt do sóng thần gây ra tại các vùng ven bờ với các kịch bản sóng thần khác nhau bằng cách sử dụng các mô hình số trị nói trên. Khi có được các bản đồ nguy cơ này, có thể đánh giá mức độ ảnh hưởng của sóng thần tới mỗi vùng bờ và ra bản tin cảnh báo sóng thần. Ngoài ra, dựa vào các kết quả tính toán nguy cơ sóng thần, có thể đề xuất một số biện pháp giảm nhẹ thiệt hại của sóng thần như xây dựng những phương án sơ tán dân để tránh sóng thần, quy hoạch lại việc sử dụng đất ở vùng bờ, hạn chế xây dựng nhà cửa và các công trình công cộng tại các vùng bờ có nguy cơ sóng thần cao v.v. Cần chú ý rằng khác với sóng ngắn, sóng thần bị suy giảm rất ít bởi rừng phòng hộ ven biển. Rừng phòng hộ hoặc cây cối có khả năng ngăn trở cây cối, vật liệu xây dựng, nhà cửa và đất đá trôi theo sóng thần, giảm sức tàn phá của sóng thần. Bởi vậy, việc tăng cường trồng rừng phòng hộ ở ven biển, ngoài những lợi ích khác, cũng là một biện pháp giảm nhẹ thiệt hại do sóng thần gây ra.

Xem chi tiết...[+]

Bão - Áp thấp nhiệt đới

Bão (typhoon) là tên gọi chung những xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ) trên Tây bắc Thái Bình Dương khi tốc độ gió cực đại (Vmax) ở gần tâm duy trì liên tục (đọc thêm Ghi chú phía dưới) từ 64 hải lý (gió cấp 12 ở ta) trở lên (hải lý: knot - kt, bằng 1,853 km/h).

Ở khu vực khác nhau gọi hiện tượng bão bằng thuật ngữ khác nhau, như ở Đại Tây Dương, Đông bắc Thái Bình Dương và Đông nam Thái Bình Dương (phía đông 160oE) gọi bão là "hurricanes", Trung quốc dịch là "cụ phong" là gió bão.
Uỷ ban bão Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương chia XTNĐ ra 5 giai đoạn theo Vmax: 1) Vùng áp thấp (low pressure area-L): có vùng áp thấp trên bản đồ khí áp bề mặt, nhưng vị trí trung tâm không thể xác định được; 2) Áp thấp nhiệt đới, viết tắt là ATNĐ (tropical depression -TD): vị trí trung tâm có thể xác định được, nhưng Vmax <34>= 34-47 kt ("storm" gốc từ tiếng Hà Lan là "dông tố", tiếng Trung là "cuồng phong", ở đây tạm dịch là "bão tố"); 4) Bão tố nhiệt đới mạnh (severe TS-STS): Vmax >= 48-63 kt; 5) Bão (Typhoon -TY): Vmax >= 64 kt. Có cơn bão quá mạnh người ta gọi là "siêu bão" (supertyphoon).
Ở ta, "Quy chế báo bão, lũ" dùng cấp gió Bô-pho để dự báo Vmax và kèm theo cấp gío giật, quy định tương tự như trên cho Biển Đông, trừ vùng áp thấp, gồm 1) ATNĐ: XTNĐ có Vmax cấp 6-7 (39-61km/h), có thể (có lúc) có gió giật cấp 8-9; 2) Bão thường: XTNĐ có Vmax cấp 8-9 (62-88km/h), có thể (có lúc) có gió giật trên cấp 10-11; 3) Bão mạnh: XTNĐ có Vmax cấp 10-11 (89-117km/h), có thể (có lúc) có gió giật trên cấp 12 hoặc trên cấp 12; 4) Bão rất mạnh: XTNĐ có Vmax cấp 12 trở lên (>= 118km/h).
Bão là hiện tượng đặc biệt nguy hiểm, gây ra gió rất mạnh, có thể đánh đắm tầu thuyền, làm đổ nhà cửa; mưa rất lớn, gây lũ lụt nghiêm trọng, có khi trở thành thảm hoạ. Ở nước ta mùa bão hàng năm vào tháng 6 - 11, nhiều nhất vào tháng 7 - 10. Theo số liệu lịch sử thì chưa thấy bão đổ bộ vào nước ta vào tháng 2.
------------------------------------------------------------------------------------------------------
Ghi chú: (1) Gió cực đại duy trì liên tục (hay ổn định) được quy định khác nhau như: Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) lấy thời gian duy trì liên tục trong 10 phút, Cơ quan thời tiết Hoa kỳ lấy 1 phút (nhưng riêng Trung tâm dự báo đại dương - Ocean Prediction Center lại lấy 10 phút), Khu vực Châu Á Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam, lấy 2 phút, Phòng Khí tượng Úc lấy tốc độ gió giật mạnh nhất chứ không lấy gió cực đại duy trì liên tục. Qua nhiều hội nghi các chuyên gia WMO đã đề xuất xác định các hệ số chuyển đổi vào 2004. Các tác giả Mỹ cho biết rằng do sự khác nhau về thời gian lấy trung bình mà cường độ báo bão của các nước khác thấp hơn của Mỹ 12%. Quy chế báo bão của Việt Nam dùng thuật ngữ "gió mạnh nhất" (tức gió cực đại) và "có thể có gió giật", mà không dùng thuật ngữ "duy trì liên tục" (sustained), nên phải hiểu đó là gió mạnh nhất được quan trắc theo quy phạm quan trắc bề mặt.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------

PHÁT HIỆN, THEO DÕI BÃO

Từ những năm đầu của thế kỷ 20, bão được phát hiện và theo dõi thông qua việc phân tích các bản đồ thời tiết dựa trên các số liệu khí áp, gió, mây, mưa v.v... thu nhận được từ lưới trạm quan trắc khí tượng ven bờ biển, trên các hải đảo và tàu biển trên các khu vực rộng lớn hoặc toàn cầu.

Đến nay, nhờ trạm quan trắc khí tượng không ngừng hoàn thiện và các tiền bộ kỹ thuật, đặc biệt là các vệ tinh khí tượng cung cấp thường xuyên các ảnh mây đen trắng hoặc ảnh mầu có độ phân giải cao bao trùm toàn bộ trái đất, các cơn bão có thể được phát hiện ngay từ khi chúng mới hình thành ở giữa đại dương cách xa đất liền hàng ngàn km. Ngoài ra, khi bão cách bờ biển vài trăm km, rađa thời tiết cũng là phương tiện hữu để theo dõi bão. Hiện nay, các cơn bão được các cơ quan khí tượng quốc tế, khu vực (trong đó có Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia) theo dõi sát sao từ khi bắt đầu hình thành, trong suổt quá trình di chuyển, phát triển đến khi hoàn toàn tan rã. Tuy nhiên, cũng có trường hợp bão phát sinh ngay sát bờ biển nước ta, di chuyển về hướng Tây và đổ bộ vào đất liền chỉ trong khoảng từ vài giờ tới nửa ngày kể từ khi hình thành. Trong trường hợp này, thời gian dự báo sớm nhất cũng chỉ được từ vài giờ đến nửa ngày.

Phán đoán bão hoặc gió mạnh theo kinh nghiệm dân gian:
Bão là một thiên tai nguy hiểm nên qua hàng ngàn năm lao động sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, ngư nghiệp và giao thông đường biển con người đã tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm nhận biết, phán đoán sự phát sinh của bão. Đến nay, nhiều kinh nghiệm đã được giải thích bằng các kiến thức khoa học, những kinh nghiệm này chủ yếu dựa vào những thay đổi trạng thái của bầu trời, mặt biển và những biểu hiện khác thường trong hoạt động sống của một số sinh vật...

a/ Trạng thái bầu trời
- Bầu trời quang đãng, không khí oi bức, ngột ngạt, lặng gió kéo dài vài ba ngày, sau đó xuất hiện mây ti tích (một loại mây tầng cao ở độ cao khoảng 7km trở lên, gồm các đám, màn hoặc lớp mây mỏng không có bóng, cấu thành từ những phần tử rất nhỏ có hình dạng trông như những hạt hay nếp nhăn) hội tụ về một hướng chân trời. Sau mây tầng cao xuất hiện mây vũ tích (một loại mây lớn và đặc, phát triển dữ dội theo chiều thẳng đứng trông như những dãy núi đồ sộ, giới hạn trên thường nhẵn lì hay dạng tơ sợi, hình dẹt như cái đe, chân mây đen và có kèm theo mây thấp rách xác xơ), gió tăng dần. Đây là dấu hiệu cho thấy bão có thể đang di chuyển từ hướng đó tới.

- Chớp xa xuất hiện liên tục, đều đặn, gây nhiễu âm, cản trở hoạt động của máy thu thanh. Hướng có chớp sáng nhất là hướng đang có bão hoạt động. Đối với vùng ven nước ta, trước khi bão tới thường xuất hiện chớp ở hướng Đông-Nam. Kinh nghiệm này đã được đúc kết thành ca dao:
“Đông Nam có chớp chéo nhau
Thấp sát mặt biển hôm sau bão về”

- Ngư dân vùng ven biển đồng bằng Bắc Bộ có kinh nghiệm: sáng sớm nhìn về phía Đông thấy mây ti tích dạng “vẩy tê tê” di chuyển từ phía Đông về phía Tây là dấu hiệu cho thấy có khả năng một vài ngày tới sẽ có bão, biển sẽ động mạnh. Kinh nghiệm này khá phù hợp với thực tiễn của mây bão, vì mây ti tích ở tầng cao thường tỏa rất xa về phía trước bão.

b/ Trạng thái mặt biển:
- Sự xuất hiện của sóng lừng, hướng lan truyền của sóng không trùng với hướng gió là dấu hiệu cho thấy có bão hoạt động ở cách xa hàng trăm km. Nhìn chung, hướng lan truyền của sóng gần trùng với hướng di chuyển của bão. Tuy nhiên, sóng lừng có thể không xuất hiện ở những vùng biển quá gần bờ hoặc có nhiều đảo.

- Mặt biển từ trạng thái lặng chuyển dần sang trạng thái động, mức độ tăng dần.

c/ Dấu hiệu khác thường của gió và sinh vật:
Nhiều kinh nghiệm đã được đúc kết thành các câu ca dao, tục ngữ về bão lưu truyền từ bao đời nay, chẳng hạn như:
"Tháng bẩy heo may/ Chuồn chuồn bay thì bão" Hoặc: "Kiến đắp thành thì bão/ Kiến ẵm con chạy ráo thì mưa".
Tháng bẩy trong câu ca dao trên là tháng bẩy âm lịch, thường là tháng tám dương lịch, là một trong những tháng chính của mùa bão ở miền Bắc nước ta. Trong tháng này, “gió bắc heo may”, tức là gió ở vùng phía trước của bão đang hoạt động ở ngoài biển khơi và có khả năng ảnh hưởng đến đất liền trong vài ba ngày tới. Kinh nghiệm dân gian có rất nhiều, song không phải mọi kinh nghiệm đều đúng và sử dụng được.

Khả năng và mức độ chính xác dự báo bão

a/ Khả năng dự báo bão
Với trình độ khoa học và cơ sở khoa học kỹ thuật hiện nay người ta có thể phát hiện bão từ rất sớm. Song ở Việt Nam chúng ta chỉ dự báo những cơn bão hoạt động trên Biển Đông, bởi vì đây là những cơn bão có nhiều khả năng đổ bộ vào đất liền nước ta. Thời gian dự báo trước hướng và tốc độ di chuyển của một cơn bão phụ thuộc vào khoảng cách từ tâm bão đến bờ biển đất liền và tốc độ di chuyển của nó. Khoảng cách đó càng lớn và tốc độ di chuyển của bão càng chậm thì thời gian báo trước được càng dài. Nguy hiểm nhất là các cơn bão và ATNĐ phát sinh ngay sát bờ. Trong các trường hợp này, thời gian để bão đổ bộ vào đất liền rất ngắn, gây nhiều khó khăn cho công tác phòng tránh. Thời gian dự báo trước thời điểm, khu vực bão đổ bộ hoặc ảnh hưởng trực tiếp hiện nay là 24-36 hoặc 48 giờ.

b/ Mức chính xác dự báo bão:
Mặc dù trang bị kỹ thuật và công nghệ của ngành khí tượng thủy văn nước ta chưa đồng bộ và hiện đại, nhưng mức chính xác dự báo bão của ta cũng đat trình độ tương đương với các nước trong khu vực. Thời gian dự báo trước càng dài thì mức độ tin cậy càng thấp. Đối với những cơn bão có đường đi tương đối thẳng, kết qủa dự báo thường cao hơn, còn đối với những cơn bão yếu và ATNĐ có đường đi phức tạp thì mức chính xác thấp hơn.

Cần lưu ý rằng, dự báo bão là một vấn đề rất khó, chưa có quốc gia nào đạt được mức chính xác tuyệt đối. Tuy nhiên, do hệ thống tổ chức và các phương án phòng tránh, chống đỡ ở các nước tiên tiến khá tốt nên thường chỉ cần được cảnh báo trước khoảng 3-6 giờ là đủ để triển khai các biện pháp sơ tán, chống đỡ có hiệu quả, nhằm tránh các thiệt hại lớn, đặc biệt là thiệt hại về tính mạng con người.


Xem chi tiết...[+]