Hiện tượng El Ninô (El Nino)

El ninô (El nino) là sự nhiễu động của hệ thống khí quyển trên vùng biển nhiệt đớí Thái Bình Dương. Điều này không những ảnh hưởng đến sự thay đổi thời tiết tại khu vực đó mà còn ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu.


Để hiểu rõ thêm về El ninô, chúng ta có thể xem xét điều kiện thời tiết khi không xảy ra El ninô và khi xảy ra El ninô:
Khi El ninô không xảy ra: Trong khu vực biển nhiệt đới Thái Bình Dương, gió tín phong thổi theo hướng đông làm cho các dòng biển nóng trên mặt biển di chuyển về phía Philippin, Inđônêxia – đây là nguyên nhân gây ra mưa bão tại khu vực này. Trong khi đó, dọc theo bờ biển nam Mĩ thuộc khu vực phía đông Thái Bình Dương 1 dòng nước lạnh mang nhiều cá và phù du sinh vật trồi lên từ phía đáy đại dương tiến về phía bờ (gần Pêru) mà người ta hay gọi là dòng biển lạnh Pêru làm cho thời tiết khô hanh tại khu vực này.
Điều kiện thời tiết khi El ninô không xảy ra (Hình minh hoạ)

Nhưng khoảng từ 4-5 năm, dòng biển lạnh không trồi lên.Trong lúc đó, gió tín phong yếu đi làm cho dòng biển nóng dịch chuyển từ phía tây về phía đông Thái Bình Dương. Sự xuất hiện lại của dòng biển nóng là nguyên nhân gây ra những trận mưa lớn, bão tố, lũ lụt… tại nhiều quốc gia Nam Mĩ: Chilê, Pêru. Ngược lại, tại khu vực Nam Á, Đông Nam Á, châu Úc hạn hán kéo dài.
Hiện tượng này thường xảy ra vào cuối năm (tháng 12) trong dịp Nôen nên người dân Pêru đặt tên là El ninô (tiếng Tây Ban Nha: Chúa Hài Đồng- The Christ Child, tiếng Việt:“cậu bé”). El ninô còn được gọi theo cách khác là: Southern Oscillation (ENSO)

El ninô xảy ra (Hình minh hoạ)

Sự đảo lộn thời tiết (vùng không mưa thì lại mưa, vùng mưa nhiều thì khô hạn, giông bão thường xuyên xảy ra….. ) không chỉ bó hẹp trong phạm vi khu vực nam Thái Bình Dương mà lan sang cả khu vực các nước châu Âu, châu Phi và các khu vực khác trên toàn cầu.

Chu kỳ của El nino

El nino thường diễn ra không đều đặn, nhưng nằm trong một chu kỳ từ 2-7 năm. Mỗi đợt El niđo có cường độ và biên độ thời gian khác nhau.

Các ảnh hưởng của El nino lên khí hậu toàn cầu được báo cáo bởi các nước khác nhau có lưu trữ tại Trung Tâm Thông Tin.

Sau đây là bản đồ dự báo về ảnh hưởng của La nina lên khí hậu toàn cầu

Ảnh Hưởng của El nino trên Thế Giới

Khi El Nino xuất hiện, kéo theo sự biến đổi khác thường của nhiệt độ và lượng mưa của nhiều vùng. El Nino hạn chế sự phát triển trong các cơn bão nhiệt đới ở Đại Tây Dương nhưng lại làm tăng số cơn bão ở vùng phía Đông và trung tâm Thái Bình Dương.

Trong hai năm 1997-98, El Nino đã gây những thiệt hại nặng nề nhất từ trước đến nay trên khắp thế giới, làm thiệt mạng 24,000 người, ảnh hưởng đến đời sống của 110 triệu người khác và gây tổn thất đến 34 tỉ Mỹ kim. Vì ở ngay vùng xích đạo, Nam Dương là nước chịu ảnh hưởng đầu tiên của El Nino. Năm 1997 những trận cháy rừng lớn và liên tục làm nghẹt khói và ô nhiễm không khí không những ở các thành phố Nam Dương mà ở các quốc gia lân cận nữa. Đông Nam Á sản xuất hàng năm 25 phần trăm lúa gạo trên thế giới, và mùa màng đã bị thiệt hại nặng vì hạn hán. Trung Hoa, nước sản xuất gạo nhiều nhất thế giới đã kêu gọi các nông dân tiết kiệm nước. Nước xuất cảng gạo nhiều nhất thế giới, Thái Lan, cũng đã báo động vì hiểm họa hạn hán. Gần đây, Cơ Quan Thực Phẩm và Nông Nghiệp của Liên Hiệp Quốc (U.N. Food and Agriculture Organization viết tắt là FAO) đã kêu gọi các nước Á Châu nên bắt đầu tích trữ lúa gạo để đề phòng nạn đói.

Nạn đói do hạn hán cũng đe dọa hàng triệu người dân ở Phi Châu và Nam Mỹ. Năm nay Liên Hiệp Quốc đã báo động 700,000 người có thể bị đói ở các nước Trung Mỹ. Ở Nam Phi, mùa màng đang bị đe dọa vì hạn hán. Ở Ba Tây, người ta đang lo ngại cho các ruộng mía làm đường và đồn điền trồng cà phê.

Trong khi hạn hán xảy ra ở Châu Á, Châu Úc, Phi Châu và một phần Nam Mỹ, thì El Nino lại gây ra những trận bão lụt lớn tại nhiều nơi khác trên thế giới, nhất là dọc theo bờ biền Thái bình Dương thuộc Hoa Kỳ và Nam Mỹ và các nước ở Tây Âu. Năm 1998, những trận bão tuyết đã làm tê liệt miền Đông Bắc Mỹ, và miền nam California đã bị ngập lụt vì quá nhiều mưa. Trong lúc đó, các trận lụt lớn nhất từ trước đến nay đã xãy ra tại Đông Phi Châu, Ecuador và Peru. Ở Peru, lượng sản xuất cá biển đã bị giảm 50% vì dòng nước ấm El Nino.

Ảnh Hưởng của El nino tại Việt Nam

Trong 47 năm gần đây có 331 cơn bão và ATNĐ đổ bộ trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến thời tiết nước ta. Tính chung những năm xảy ra EL NINO, mỗi năm nước ta chịu ảnh hưởng của 6 đến 7 cơn bão và ATNĐ, ít hơn trung bình nhiều năm (TBNN) khoảng 0,3 cơn.

Mùa bão 1997-1998 thể hiện rõ rệt tác động của El Nino đến hoạt động của bão và ATNĐ ở Việt Nam. Trong cả 2 năm này mùa bão đến chậm hơn bình thường 2 tháng. Trên Biển Đông năm 1997 bão tập trung trong vòng 4 tháng (từ đầu tháng 8 đến đầu tháng 11) bắt đầu muộn hơn khoảng tháng 10 và kết thúc muộn hơn khoảng 1 tháng so với TBNN. Cả mùa có 5 cơn bão và áp thấp nhiệt đới (ít hơn TBNN 4 cơn) trong đó 3 cơn bão đổ bộ vào đất liền, bằng một nửa số cơn bão và ATNĐ trung bình hàng năm ảnh hưởng đến nước ta, cụ thể 3 cơn bão là:

  • Bão số 2 (Zita - 9715) đổ bộ vào Quảng Ninh- Hải Phòng sáng ngày 23/8.
  • Bão số 4 (FriT2-9721) đổ bộ vào Quảng Nam- Đà Nẵng ngày 25/9.
  • Bão số 5 (Linda- 9726) đổ bộ vào khu vực Bạc Liêu – Cà Mau ngày 2/11.

Năm 1998 mùa bão bắt đầu chậm, số lượng bão và ATNĐ ít. Mãi đầu tháng 7 mới xuất hiện cơn bão đầu tiên ở khu vực Tây Thái Bình Dương muộn nhất kể từ 1951 đến nay. Hết tháng 10 mới xuất hiện 2 cơn bão và ATNĐ ở Thái Bình Dương bằng 50% TBNN cùng kì. Thời gian này không có cơn bão nào ảnh hưởng vào nước ta ngoài ảnh hưởng của hai ATNĐ : Từ tháng 1, 2 đến tháng 7, 8 tình trạng mưa ít, nắng nóng, khô hạn xảy ra trên diện rộng ở hầu khắp đất nước. Đặc biệt là ở Trung Bộ và Nam Bộ, Tây nguyên, nhiều sông suối bị cạn kiệt nước, nước sinh hoạt thiếu, nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng Nam Bộ và Nam Trung Bộ.

Nhìn chung, 15 - 16 đợt El Nino đã xuất hiện trong hơn nửa thế kỷ qua trước hết làm nền nhiệt độ ở hầu hết các khu vực trong cả nước đều tăng hơn so với bình thường, các kỷ lục cao của nhiệt độ ở hầu hết các khu vực của nước ta thường gắn với hiện tượng El Nino. Nơi chịu tác động nhiều nhất là Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Nơi ảnh hưởng ít nhất là vùng Tây Bắc. El Nino làm giảm sút lượng mưa ở hầu hết các khu vực, nhất là khu vực Trung Bộ, bao gồm cả Tây Nguyên. Bởi đa phần lượng ẩm cung cấp cho khu vực Việt Nam do gió mùa mùa hè. El Nino xuất hiện thì cường độ gió mùa hè yếu, mùa mưa đến chậm hơn hoặc kết thúc sớm hơn, lượng mưa ít hơn. Số lượng bão, áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông và ảnh hưởng đến Việt Nam ít hơn so với bình thường. Tuy nhiên cần lưu ý là trong các năm El Nino xuất hiện những cơn bão trái quy luật. Tần số không khí lạnh (gió mùa đông bắc) ít hơn và kết thúc sớm hơn mọi năm dẫn đến mùa đông ấm hơn bình thường ở các tỉnh phía Bắc. Ngoài quy luật này, đôi khi có El Nino tác động ngược lại sẽ làm tăng lượng mưa ở một vài nơi.(TS. Hoàng Đức Cường)



Xem chi tiết...[+]

Biến đổi khí hậu là gì?

"Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo".

Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác.

Các biểu hiện của sự biến đổi khí hậu trái đất gồm:

* Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung.
* Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất.
* Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển.
* Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người.
* Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác.
* Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển.

Các quốc gia trên thế giới đã họp tại New York ngày 9/5/1992 và đã thông qua Công ước Khung về Biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc. Công ước này đặt ra mục tiêu ổn định các nồng độ khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp của con người đối với hệ thống khí hậu. Mức phải đạt nằm trong một khung thời gian đủ để các hệ sinh thái thích nghi một cách tự nhiên với sự thay đổi khí hậu, bảo đảm việc sản xuất lương thực không bị đe doạ và tạo khả năng cho sự phát triển kinh tế tiến triển một cách bền vững.

Biến đổi khí hậu - những hiểm hoạ đang đe doạ VN


(LĐCT) - Vấn đề trái đất nóng lên, nước biển dâng cao và khí hậu đang biến đổi một cách khắc nghiệt đến nay không còn là chuyện của thế giới, mà đang đe doạ trực tiếp đến VN: Lũ lụt, hạn hán, triều cường ngày càng nặng nề hơn, ảnh hưởng trực tiếp đến sự an toàn của con người và cả nền kinh tế.

Tăng 2 độ C, 22 triệu người Việt mất nhà

Theo nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), TP Hồ Chí Minh nằm trong danh sách 10 thành phố bị đe doạ nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu (bao gồm Calcutta và Bombay của Ấn Độ, Dacca của Bangladesh, Thượng Hải, Quảng Châu của Trung Quốc, TPHCM của VN, Bangkok của Thái Lan và Yangon của Myanmar).

Theo bản báo cáo về phát triển con người 2007-2008 của UNDP, nếu nhiệt độ trên trái đất tăng thêm 2 độ C, thì 22 triệu người ở VN sẽ mất nhà và 45% diện tích đất nông nghiệp ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa lớn nhất của VN sẽ ngập chìm trong nước biển.

Ông Christophe Bahuet - Phó đại diện UNDP tại VN - nhận định: Biến đổi khí hậu có thể dẫn đến 5 nguy cơ lớn: Giảm năng suất nông nghiệp; gia tăng tình trạng thiếu nước; thời tiết cực đoan gia tăng; các hệ sinh thái tan vỡ và bệnh tật gia tăng.

Nước biển đang lấy đất

Với trên 3.000km bờ biển, VN được coi là quốc gia có mức độ dễ bị tổn thương cao hơn trước sự biến đổi khí hậu. Các huyện ven biển tỉnh Nghệ An thời gian gần đây đang bị nước biển xâm lấn đến mức báo động. Nhiều xã nằm cách bờ biển từ 5 đến 10km, nhưng đã và đang bị nước mặn tấn công.

ĐBSCL sẽ ngập 1.708km2 đất. Đó là thông tin do Viện Khoa học Khí tượng thuỷ văn và Môi trường (KT-TV&MT) đưa ra tại hội thảo khoa học thường niên 2007 mới tổ chức tại TPHCM.

Theo thống kê, ĐBSCL có tổng diện tích 34.322km2, trong đó 18.066km2 đất thuộc các huyện ven biển. Trong các thập kỷ gần đây, yếu tố khí tượng thuỷ văn tại ĐBSCL tiếp tục thay đổi theo chiều hướng xấu. Các thiên tai như bão tố, lụt lội, xâm nhập mặn... xảy ra thường xuyên hơn và khó dự đoán.

Dự đoán, khi mực nước biển dâng cao từ 0,2-0,6m, sẽ có 1.708km2 đất bị ngập ảnh hưởng tới 108.267 người sinh sống. Tệ hơn thế, trong trường hợp nước dâng cao hơn mức dự đoán-Viện trưởng Viện Khoa học KTTV MT, ông Trần Thục cho biết: "Chỉ cần nước biển dâng lên vài mét, chúng ta sẽ mất đi một diện tích đất khoảng 15.000-20.000km2 tại ĐBSCL".

Hạn hán và lũ lụt

Dự án "Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu ở lưu vực sông Hương và chính sách thích nghi ở huyện Phú Vang, Huế" do Viện Khoa học KT-TV&MT thực hiện cho thấy, tài nguyên nước tại lưu vực sông Hương đang biến đổi theo tác động của biến đổi khí hậu. Nhiệt độ có xu hướng tăng dần lên. Cường độ mưa đang có xu hướng tăng lên rõ rệt, và trên phần lớn lãnh thổ, lượng mưa có xu hướng giảm đi trong tháng 7, 8 và tăng lên trong các tháng 9, 10, 11.

Theo bà Nguyễn Thị Hiền Thuận, Phó Phân viện trưởng Phân viện Khoa học KT-TV&MT tại TPHCM: "Khí hậu VN đã nóng lên 0,1-0,2độ C trong hơn 10 năm qua. Mực nước biển cũng đã dâng cao hơn. Dù tổng lượng mưa ít thay đổi, nhưng thời điểm mưa đã thay đổi, mùa khô kéo dài hơn, mùa mưa nhiều mưa hơn, khiến cho hạn hán và lũ lụt đều có chiều hướng tăng lên".

Trong 3 tháng cuối năm 2007, lượng mưa ở Trung Bộ và Bắc Tây Nguyên vượt từ 100%-150% so với trung bình nhiều năm đã gây ra sáu trận lụt liên tiếp chưa từng có ở khu vực này gây thiệt hại nghiêm trọng.

Ở khu vực Bắc Bộ, lượng mưa lại thấp hơn 50%-80% so với mức trung bình nhiều năm, nên lượng dòng chảy trên các dòng sông ở Bắc Bộ đang cạn kiệt nhanh.

Theo dự báo của Trung tâm Dự báo Khí tượng-Thuỷ văn Trung ương (TTDBKTTVTƯ), mực nước hồ Hoà Bình đã xuống thấp tới mức kỷ lục so với trung bình nhiều năm. Mực nước ngày 19.12, tại hồ Hoà Bình là 114,60m, với lưu lượng nước chảy về hồ là 510m³/s.

Trong khi đó, mực nước cùng thời kỳ năm 2006 (năm có mực nước và lưu lượng đến hồ Hoà Bình thấp nhất trong chuỗi số liệu 100 năm) là 116,40m và lưu lượng nước về hồ là 570m³/s.

Cũng theo dự báo của TTDBKTTVTƯ, lượng nước thượng nguồn các sông ở Bắc Bộ từ Trung Quốc chảy về hầu như không có, nên tình trạng thiếu nước phát điện chắc chắn sẽ rất cao trong thời gian tới.

Thích nghi từng bước

Theo Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Công Thành, VN đang nghiên cứu và từng bước thực hiện những dự án để tiến tới một dự án tổng thể về thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thực tế trong công tác phòng chống thiên tai, nếu như trước đây chúng ta chỉ chú trọng phòng và khắc phục hậu quả thì gần đây đã có sự chuyển hướng trong việc thích ứng và tìm biện pháp phòng ngừa, giảm nhẹ hậu quả thiên tai.

Cụ thể là chương trình sống chung với lũ ở đồng bằng sông Cửu Long, và mới đây Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, ngành liên quan nghiên cứu giải pháp thích ứng với lũ ở miền Trung.

Mặt khác, cần lồng ghép thông tin biến đổi khí hậu vào các kế hoạch phát triển, kết hợp với nâng cao nhận thức và tăng cường sự tham gia của cộng đồng. Trong trường hợp như ở Phú Vang (Thừa Thiên Huế), cần phải xây dựng mới và nâng cấp hệ thống đê; nâng nền các công trình sát biển; quản lý sông và đầm phá, quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực và điều hành các hồ chứa...".

Để hạn chế thiệt hại do nước biển dâng cao, trước mắt các nhà khoa học ở VN đã đề ra phương án cần trồng rừng ngập mặn và quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản, phát triển các khu bảo tồn sinh thái; không quy hoạch khu định cư gần bờ biển, cửa sông; xây đê cao 1-1,2m để bảo vệ cảng biển, di tích, điểm du lịch... trong vùng ngập do nước biển dâng.

Để đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu, được biết Chính phủ đã dự kiến trong năm 2008 sẽ xây dựng kế hoạch hành động quốc gia. Theo kiến nghị của nhiều nhà khoa học, đây là vấn đề quá lớn nên riêng Bộ Tài nguyên và Môi trường không thể giải quyết được. Chương trình hành động này phải phân công cụ thể cho từng bộ, ngành liên quan, đảm bảo sự phối hợp và phải quy trách nhiệm rất rõ ràng. (Phương Uyên

Xem chi tiết...[+]

Hiệu ứng nhà kính là gì?

Ba vấn đề lớn mang tính chất toàn cầu đối với môi trường hiện nay là hiệu ứng nhà kính, phá hoại tầng ozôn và mưa axit.

Hiệu ứng nhà kính, xuất phát từ effet de serre trong tiếng Pháp, do nhà toán học người Pháp Jean Baptiste Joseph Fourier lần đầu tiên đặt tên vào năm 1824 thông qua một vụ nổ mạnh trong khí quyển làm nhiệt độ của một vùng tăng lên. Năm 1827, Joseph Fourier đưa ra nguyên lý giải thích hiện tượng Hiệu ứng nhà kính gây được sự quan tâm lớn của giới khoa học. Hiệu ứng nhà kính dùng để chỉ hiệu ứng xảy ra khi năng lượng bức xạ của tia sáng mặt trời, xuyên qua các cửa sổ hoặc mái nhà bằng kính, được hấp thụ và phân tán trở lại thành nhiệt lượng cho bầu không gian bên trong, dẫn đến việc sưởi ấm toàn bộ không gian bên trong chứ không phải chỉ ở những chỗ được chiếu sáng.

Qua nghiên cứu, các nhà khoa học giải thích: Hiệu ứng nhà kính là hiệu ứng làm cho không khí của Trái đất nóng lên do bức xạ sóng ngắn của Mặt trời có thể xuyên qua tầng khí quyển chiếu xuống mặt đất; mặt đất hấp thu nóng lên lại bức xạ sóng dài vào khí quyển để CO2 hấp thu làm cho không khí nóng lên. CO2 trong khí quyển giống như một tầng kính dày bao phủ Trái đất, làm cho Trái đất không khác gì một nhà kính lớn. Theo tính toán, nếu không có lớp khí quyển, nhiệt độ trung bình ở lớp bề mặt Trái đất sẽ xuống tới -23 độ C, nhưng nhiệt độ trung bình thực tế là 15 độ C, có nghĩa là hiệu ứng nhà kính đã làm cho Trái đất nóng lên 38 độ C.

Ngoài CO2 ra, còn có metan, ozôn, các halogen và hơi nước cũng có tác dụng quan trọng gây hiệu ứng nhà kính. Cùng với sự phát triển dân số và công nghiệp với tốc độ cao, CO2 thải vào khí quyển cũng tăng theo. Rừng lại bị chặt phá quá mức, CO2 đáng lẽ được rừng cây hấp thu lại không được hấp thu, nên lượng CO2 ngày càng tăng, hiệu ứng nhà kính do đó tăng theo không ngừng. Theo phân tích trong 200 năm qua nồng độ CO2 đã tăng lên 25%, nhiệt độ trung bình của Trái đất tăng lên 0,5 độ C. Ước tính đến giữa thế kỷ sau, bề mặt Trái đất sẽ nóng thêm 1,5 - 4,5 độ C; trong đó nhiệt độ ở vĩ độ trung và cao tăng lên càng nhiều.

Hậu quả của hiệu ứng nhà kính rất nghiêm trọng. Trước hết là làm cho sinh thái biến đổi lớn. Sa mạc càng mở rộng, đất đai càng bị xói mòn, rừng càng lùi thêm về vùng cực, hạn hán rất nặng, lượng mưa tăng thêm 7-11%. Mùa đông càng ẩm, mùa hè càng khô. Vùng nhiệt đới càng ẩm ướt, vùng khô á nhiệt đới càng hạn, khiến cho các công trình thủy lợi phải điều chỉnh lại. Khu vực ven biển sẽ bị thiên tai đe dọa khủng khiếp.
Vì nhiệt độ tăng lên, những tảng băng ở vùng cực sẽ tan chảy làm cho mặt biển tăng cao hơn 1m. Có nhà khoa học cho rằng, vì nhiệt độ tăng lên sẽ làm cho thể tích nước dãn nở, mặt nước biển sẽ dâng cao 0,2-1,4m. Hiện nay có 1/3 dân số thế giới sống ở vùng ven biển, vùng này cũng là nơi phát triển công nông nghiệp, nếu mặt biển dâng cao sẽ tràn ngập nhiều thành phố và bến cảng.

Trái đất nóng lên đã làm cho toàn thế giới phải quan tâm. Tháng 11 năm 1988, Đại hội Liên Hiệp Quốc đã ra nghị quyết, nêu rõ các khí CO2 vẫn đang tiếp tục tăng, rất có thể làm cho Trái đất nóng lên, mặt biển dâng cao mang lại tai họa cho nhân loại, và kêu gọi toàn thế giới hết sức cố gắng "bảo vệ khí hậu vì con người hiện nay và mai sau".

Bởi vậy, khi chúng ta phát triển sản xuất công nghiệp, trước hết cần phải tích cực xử lý ô nhiễm không khí, nghiên cứu công nghệ chuyển hóa CO2 thành chất khác, ngăn chặn các khí metan, halogen, clo, flo,... không cho thải vào không khí.

Hai là bảo vệ tốt cây rừng, tích cực trồng cây gây rừng, làm cho CO2 chuyển hóa thành chất dinh dưỡng thông qua tác dụng quang hợp của cây xanh.

Cuối cùng, bằng mọi cách làm giảm lượng tiêu hóa năng lượng dầu mỏ và than, cố gắng áp dụng năng lượng hạt nhân, năng lượng Mặt trời, năng lượng nước và gió để giảm bớt lượng CO2 thải vào không khí.


Bức xạ sóng ngắn của Mặt trời có thể xuyên qua tầng khí quyển chiếu xuống mặt đất;
mặt đất hấp thu nóng lên lại bức xạ sóng dài vào khí quyển để CO2 hấp thu
làm cho không khí nóng lên (Ảnh: climatechange)

Xem chi tiết...[+]